Dây & cáp điện

Home » 6. Các bài viết về điện » Tìm hiểu về việc sử dụng dây dẫn siêu nhiệt cho việc cải tạo các đường dây tải điện quá tải

Tìm hiểu về việc sử dụng dây dẫn siêu nhiệt cho việc cải tạo các đường dây tải điện quá tải


( Thứ sáu, 19 Tháng 8 2011 08:56)

Hiện nay, các đường dây 110kV của Tổng công ty Điện lực miền Nam đa số là trụ BTLT20m, dây dẫn là loại ACSR-185/29. Khi cải tạo từ dây ACSR185 thành ACSR240 thì công suất truyền tải không tăng đáng kể.

Nếu thay bằng dây lớn hơn như ACSR400 hoặc phân pha thì phải thay đối kết cấu của trụ, dẫn đến tăng chi phí và gặp trở ngại về giải phóng mặt bằng. Do đó việc nghiên cứu sử dụng dây siêu nhiệt trở nên rất cần thiết.

Hiện nay công nghệ dây siêu nhiệt trên thế giới có 3 loại chủ yếu:

1. Loại 1: GTACSR hoặc GZTACSR

–             Kết cấu: dạng ép hình thang (trapezoid), sợi nhôm bằng hợp kim siêu kháng nhiệt (loại GZTACSR có thêm chất zirconium), lõi thép bằng sợi thép ứng suất cao mạ nhôm. Ngoài ra loại dây này còn có khe hỡ giữa lõi thép và nhôm được bơm mỡ chịu nhiệt, phần nhôm có thể trượt so với phần thép, từ đó có thể làm giảm độ võng khi nhiệt độ tăng,

–             Ưu điểm: Độ võng thấp (khoảng 20% so với dây ACSR), chịu nhiệt độ cao đến 210oC, sức căng lớn, dòng điện tải cao gấp 2 lần so với dây ACSR, khả năng chống rỉ tốt, đã sử dụng nhiều tại Việt Nam, có nhiều nhà sản xuất như LS Cable-Vina/VN, Hitachi Cable/Japan, CTC/USA, Trinefasa/Spain,…

–             Nhược điểm: thời gian thi công kéo dài (ít nhất là 12 tiếng cho mỗi khoảng néo 2km do phải căng dây 2 lần để lấy độ võng), dụng cụ thi công phức tạp, đắt tiền, đòi hỏi tay nghề người công nhân cao, không cho phép mối nối trong khoảng néo do đó phải xuất hiện chuỗi néo trung gian.

GZTACSR

2. Loại 2: STACIR (INVAR)

–             Kết cấu: sợi nhôm bằng hợp kim invar chịu nhiệt, ứng suất cao, lõi thép bằng sợi thép ứng suất cao invar mạ kẽm hoặc nhôm.

–             Ưu điểm: độ võng chỉ bằng 50% so với dây ACSR, chịu nhiệt độ cao đến 210oC, sức căng lớn, khả năng mang dòng điện cao từ 1.5 – 2 lần so với dây ACSR, chống rỉ tốt, thi công nhanh, có nhiều nhà sản xuất như LS-Vina/VN, Hitachi Cable/Japan, Furukawa/Japan,…

–             Nhược điểm: khi tải dòng điện lớn độ võng của dây tăng nhanh, trọng lượng riêng lớn do đó có thể ảnh hưởng đến kết cấu trụ.

STACIR

1. Loại 3: ACCC (aluminium conductor composite core)

–             Kết cấu: sợi nhôm bằng hợp kim siêu kháng nhiệt ép chặt dạng hình thang (trapezoid), lõi dây là những sợi cacbon và sợi thủy tinh ép;

–             Ưu điểm: Trọng lượng nhẹ hơn dây ACSR, STACIR, GZTACSR khoảng 28%, chịu nhiệt độ cao đến 210oC, độ võng thấp (khoảng 20% so với dây ACSR), sức căng lớn, mang dòng điện cao gấp 2 lần so với dây ACSR, tổn thất thấp hơn so với dây ACSR khoảng 30%, thi công nhanh (tương đương với dây ACSR).

–             Nhược điểm: công nghệ quá mới (vận hành khoảng hơn 4 năm), ít nhà sản xuất (qua tham khảo chỉ có CTC/USA sản xuất, mới cấp khoảng 8000km trong nước Mỹ và Indonesia), chưa áp dụng tại Việt Nam, lõi composite có thể bị gãy trong khi thi công.

ACCC

Nhiều đơn vị trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã sử dụng dây siêu nhiệt và mang lại một số kết quả đáng kể như Tổng Công ty Điện lực miền Trung (CPC) đã thay dây đường dây 110kV Pleiku-Kontum dài 32km từ ACSR150 thành GZTACSR200 mà không cần phải thay đổi kết cấu đường dây như trụ, móng… Công suất truyền tải của đường dây được nâng lên từ 80MW lên 190MW. Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã thay hàng loạt các đường dây như Phú Lâm-Chợ Lớn, Thủ Đức-Thanh Đa từ ACSR240 thành GTACSR240, khả năng truyền tải được nâng lên từ 610A thành 1046A; đường dây Phú Định-Hùng Vương, Xa Lộ-Đa Kao từ ACSR400 thành GTACSR400 khả năng truyền tải được nâng lên từ 910A thành 1643A.

Đối với Tổng công ty Điện lực miền Nam việc lựa chọn dây siêu nhiệt là tất yếu để thay thế các đường dây 110kV quá tải mà không cần sửa chửa các kết cấu trụ và móng trụ hiện hữu. Tuy nhiên lựa chọn công nghệ nào có lợi nhất về kinh tế (bao gồm cả suất đầu tư, chi phí cho suốt đời dự án), về quản lý vận hành, dự phòng, xử lý sự cố, đặc biệt là có thể giảm thiểu thời gian thi công đặc biệt là các đường dây độc đạo là một vấn đề cần bàn.

Trên đây là một số nét về sử dụng dây dẫn siêu nhiệt cho công tác cải tạo đường dây điện nhằm mục đích đạt hiệu quả cao trong công tác cải tạo, sửa chữa lưới điện.

(Theo: Ban QLĐT – EVNSPC )
—————————————————————————————–
Nguồn: http://evnspc.vn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: